Williams

  • Quốc gia: Anh
  • Năm tham gia: 1977-nay

Thông tin chung

Tên chính thức: Williams Martini Racing

Năm đầu tham gia: 1977

Quốc tịch đội đua: Anh

Trụ sở đội đua: Grove, Wantage, Oxfordshire, Anh Quốc

Loại hình đội đua: Đội đua tư nhân (phải mua động cơ)

Người sáng lập: Frank Williams và Patrick Head

Thành tích nổi bật tính đến hết năm 2017

Số lần vô địch đội đua: 9

Số lần vô địch tay đua: 7

Chiến thắng: 114

Thông tin chiếc xe năm 2018

Đội trưởng: Frank Williams (thực tế do tuổi cao nên Frank Williams giao quyền cho con gái là Claire Williams)

Phụ trách kỹ thuật: Paddy Lowe

Tay đua: Lance Stroll và Sergey Sirotkin

Tên chiếc xe (khung xe): FW41

Động cơ: Mercedes M09 EQ Power+

Nhiên liệu: Petronas Primax

Dầu:

Lốp xe: Pirelli P-zero

Các sự kiện đáng nhớ

1977: Frank Williams và Patrick Head thành lập đội đua. Williams phụ trách quản lý còn Head phụ trách kỹ thuật. Họ hợp tác với nhà sản xuất động cơ là Ford Cosworth, và chỉ tuyển 1 tay đua duy nhất là Patrick Neve. Kết quả không giành được điểm nào.

1978: Alan Jones thay Neve và ông giúp đội đua giành được 11 điểm, đứng thứ 9 chung cuộc.

1979: Williams có sự tiến bộ thần tốc,  Alan Jones có 4 chiến thắng và tay đua thứ 2 là Clay Regazzoni có 1 chiến thắng. Đội đua giành tới 75 điểm, xếp thứ 2 chung cuộc.

1980-1981: Carlos Reutemann thay Regazzoni nhưng Alan Jones vẫn là chủ lực của đội đua trong thời kỳ này. Ông vô địch cá nhân mùa giải 1980, còn Williams vô địch đội đua 2 năm liên tiếp.

1982: Alan Jones rời đội, Keke Rosberg là người thay thế. Dù chỉ giành được 1 chiến thắng ở Thụy Sỹ nhưng đủ để Rosberg lên ngôi vô địch cá nhân mùa giải đó. Trong khi đó các tay đua còn lại thi đấu không thành công nên đội đua chỉ xếp thứ 4 chung cuộc.

1983-1984: Rosberg vẫn là chủ lực của đội đua, mỗi năm ông đều có 1 chiến thắng. Cuối năm 1983, Williams bất ngờ chuyển sang sử dụng động cơ Honda.

1985: Tuyển Nigel Mansell về đua cặp với Rosberg. Mỗi tay đua có 2 chiến thắng, giúp đội đua xếp thứ 2 chung cuộc. Đây cũng là năm cuối cùng Rosberg thi đấu cho Williams.

1986: Tuyển 1 tay đua rất mạnh về thay thế Rosberg là Nelson Piquet. Mansell và Piquet đều có rất nhiều chiến thắng, giúp cho đội đua trở lại vị trí số 1. Nhưng về mặt cá nhân, cả 2 người đều chịu thua Alain Prost của Mclaren.

1987: Đội đua giữ được ngôi vô địch đội đua, đồng thời Piquet cũng trở thành tay đua vô địch cá nhân. Đây là lần thứ 2 Williams vô địch đồng thời cả 2 nội dung. Sau thành tích này thì Piquet rời đội.

1988: Đội đua bỏ Honda để sử dụng động cơ Judd và rơi vào khủng hoảng năm 1988. Nigel Mansell chỉ 2 lần lên podium, ở các chặng còn lại ông phải bỏ cuộc hết. Còn các tay đua còn lại cũng không thi đấu nổi bật. Do đó từ vị trí số 1 đội rơi xuống thứ 7. Mansell cũng rời đội sau mùa giải này (nhưng ông lại trở lại văm 1991).

1989-1990: Kết quả tệ hại với Judd nên họ nhanh chóng đổi sang động cơ Renault. Ngay lập tức họ có được vài chiến thắng nhờ công của Thierry Boutsen và Riccardo Patresse, nên vươn lên xếp nhì mùa giải 1989 và xếp thứ 4 mùa giải 1990.

1991: Tuyển được Andrian Newey phụ trách kỹ thuật dưới quyền của Patrick Head. Mansell cũng trở lại để đua chung với Patrese. Hai người giành lại vị trí thứ 2 cho Williams.

1992-1997: Đây là giai đoạn hoàng kim của đội đua. Họ giành được 5 chức vô địch đội đua và 4 chức vô định tay đua (thuộc về 4 tay đua khác nhau là Mansell, Prost, Damon Hill và Jacques Villeneuve). Giai đoạn này chỉ kết thúc khi họ ngừng hợp tác với Renault và Newey chuyển sang Mclaren.

1998-1999: Mỗi năm Williams thay một động cơ mới. Năm 1998 là Mecachrome, năm 1999 ở Supertec. Kết quả là họ không giành được chiến thắng nào. Nhưng họ vẫn có thể lên podium thường xuyên.

2000: Đội đua chuyển sang sử dụng động cơ BMW và giới thiệu 1 tay đua triển vọng là Jenson Button. Nhưng chủ lực lúc này là Ralf Schumacher (gia nhập đội đua vào năm trước). Ông là người duy nhất ghi được podium.

2001-2004: Cặp tay đua chủ lực là Ralf Schumacher và Juan Pablo Montoya. Mỗi năm đội đua đều có được chiến thắng. Giữa năm 2004, bộ nhiệm Sam Michael làm giám đốc kỹ thuật, chuyển Patrick Head sang phụ trách mảng chiến thuật.

2005: Cả Ralf và Montoya đều rời đội. Đội đua lại xuống cấp thêm 1 bậc nữa, từ đội mạnh xuống hàng trung bình. Đây là năm cuối cùng họ sử dụng động cơ BMW.

2006-2013: Đội đua sử dụng nhiều động cơ khác nhau như Cosworth, Toyota và Renault nhưng không thể vươn lên nhóm trên. Đội chỉ thỉnh thoảng có được podium. Đáng nhớ nhất trong số đó là chiến thắng của Pastor Maldonado ở Tây Ban Nha 2012. Trong thời kỳ này đội giới thiệu được 1 tay đua triển vọng là Nico Rosberg. Patrick Head cũng nghỉ hưu hồi năm 2012. Ngoài ra đội đua cũng bán cổ phần cho Toto Wolff hồi năm 2009, đến năm 2012 thì chỉ định Wolff làm giám đốc điều hành. Đầu năm 2013, Wolff rời Willliams để sang Mercedes, Claire Williams bắt đầu được giao nhiệm vụ điều hành đội đua với cương vị phó đội trưởng.

2014-2015: Chỉ định Pat Symond làm giám đốc kỹ thuật và chuyển sang sử dụng động cơ Mercedes. Bất ngờ vươn lên nhóm đội mạnh. Felipe Massa và Valtteri Bottas giúp cho Williams có vị trí thứ 3 ở cả 2 mùa giải.

2016-2017: Nhưng sức mạnh của đội không giữ được lâu. Họ bị tụt xuống vị trí thứ 5 ở mùa giải tiếp theo. Giai đoạn này đánh dấu việc Williams phải sử dụng các tay đua pay driver như Lance Stroll. Nhưng họ kéo được Paddy Lowe từ Mercedes về làm giám đốc kỹ thuật thay Pat Symond..

 

Bình luận

bình luận